Virus ‘HIV’ âm thầm lây nhiễm cho 1,5 triệu người trong bối cảnh dịch COVID-19

Thứ bảy 12/06/2021 12:00

(Chinhphu.vn) - Đối với nhiều người, loại virus HIV gây ra căn bệnh thế kỷ AIDS không còn là virus mới, nhưng vào năm 2020, khi thế giới tập trung vào đại dịch COVID-19, thì loại virus này đã âm thầm lây nhiễm cho 1,5 triệu người và khiến 690.000 người tử vong.

Bài học kinh nghiệm từ 2 đại dịch

Theo NY Times, đại dịch nghiêm trọng COVID-19 và HIV/AIDS đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người trên toàn cầu. Mỹ đã công nhận HIV/AIDS là một trong những đại dịch tồi tệ nhất trong lịch sử loài người. Đại dịch đã khiến gần 35 triệu người trên toàn cầu tử vong, trong đó có hơn 700.000 người Mỹ.

Trong cả 2 đại dịch, đối với những nước có phản ứng chậm chạp đều dẫn đến những hậu quả đau lòng – đó là những cái chết bất đắc dĩ, mặc dù nguyên nhân và thời gian của sự chậm trễ là khác nhau.

Đối với căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, rất ít người biết về căn bệnh này trong nhiều năm. Mọi người thường thờ ơ, kỳ thị và đưa ra những thông tin sai lệch về dịch bệnh. Cho đến năm 1983, dịch HIV/AIDS mới xuất hiện trên trang nhất của New York Times. Vào thời điểm đó, dịch bệnh đã khiến 558 người Mỹ tử vong.

Vào thời điểm đó, cựu Tổng thống Mỹ Reagan đã không công khai đề cập đến từ “AIDS” cho đến năm 1985. Lúc này khoảng 12.000 người Mỹ đã bị mắc bệnh và 6.000 người đã chết.

Kenneth H. Mayer, chuyên gia tại Trường Y Harvard, cho biết, có thể thấy rõ sự im lặng của chính quyền ông Reagan đối với dịch bệnh, đặc biệt khi so sánh với sự chú ý dành cho số lượng ít những người mắc bệnh và tử vong do bệnh Lê dương (Legionnaires - bệnh nhiễm trùng phổi gây ra bởi vi khuẩn Legionella - ND) hoặc hội chứng sốc độc tố, 2 bệnh từ những năm 1980. Thông điệp ngầm từ chính quyền là HIV/AIDS dường như chỉ giới hạn ở những nhóm người không quan trọng với xã hội, bởi vậy, không nên đề cập tới nhiều.

Còn đối với dịch COVID-19, phản ứng chậm trễ với đại dịch có thể do vấn đề kinh tế và chính trị. Sau khi Mỹ ghi nhận ca mắc COVID-19 đầu tiên vào tháng 1/2020, các cố vấn Nhà Trắng đã đề nghị có những biện pháp mạnh mẽ để ngăn chặn dịch bệnh, nhưng cựu Tổng thống Trump đã không làm như vậy, theo Times. Cho đến tháng 3/2020, khi ông Trump đưa ra những cảnh báo về COVID-19, dịch bệnh đã bùng phát nghiêm trọng tại Mỹ.

Một báo cáo hồi tháng 2/2021 từ tạp chí y khoa The Lancet ước tính rằng, 40% ca tử vong do COVID-19 ở Mỹ có thể tránh được nếu chính quyền ông Trump phản ứng nhanh chóng hơn và hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ công bằng hơn.

Tại New York, Thống đốc Andrew Cuomo và Thị trưởng Bill de Blasio đã thúc đẩy kế hoạch ứng phó với dịch bệnh vào tháng 3/2020, vài tuần sau khi thành phố ghi nhận ca mắc COVID-19 đầu tiên. Tiến sĩ Thomas R. Frieden, cựu Giám đốc Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỹ (CDC) ước tính rằng, 50-80% số ca tử vong do COVID-19 của thành phố New York có thể tránh được nếu các hạn chế được đưa ra sớm hơn 1-2 tuần.

Vaccine COVID-19, đúc rút từ những tiến bộ trong nghiên cứu HIV

Các liệu pháp kháng virus đã biến HIV/AIDS từ bản án tử thành một căn bệnh có thể kiểm soát và phòng ngừa. Vaccine mRNA đã giúp làm giảm nhiệt đại dịch COVID-19 bùng phát ở Mỹ. Tuy nhiên, trong khi vaccine COVID-19 đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) phê duyệt trong khoảng thời gian nhanh kỷ lục 11 tháng, phải mất 6 năm liều thuốc HIV/AIDS đầu tiên mới được phê duyệt.

Theo NY Times, có những lý do khoa học cho sự khác biệt trên. HIV là một mầm bệnh cực kỳ nguy hiểm, không giống như SARS-CoV-2, hệ thống miễn dịch hầu như không bao giờ có thể tự loại bỏ vi khuẩn HIV. Đồng thời, vào những năm 1980, công nghệ giải trình tự gene không phát triển như thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học hàng đầu của Chính phủ Mỹ đã không muốn giải quyết căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS là do những đối tượng tử vong vì căn bệnh này. Điều này chỉ thay đổi khi tổ chức hoạt động đối đầu Act Up chuyển mục tiêu sang Giám đốc Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Anthony Fauci.

Sau một cuộc biểu tình tại Viện Y tế Quốc gia vào năm 1988, ông Fauci đã mời các nhà hoạt động tới phòng thí nghiệm của mình. Năm 1990, ông Fauci tán thành yêu cầu của Act Up cho phép bệnh nhân HIV/AIDS tiếp cận với các loại thuốc thử nghiệm, một thay đổi quan trọng ảnh hưởng đến cách thức tiến hành các thử nghiệm lâm sàng cho đến ngày nay.

Trải qua bao nhiêu năm đối phó với đại dịch AIDS, hàng tỷ USD đã đổ vào cho các công trình nghiên cứu HIV/AIDS. Từ những công trình nghiên cứu đó, các chuyên gia đã đúc rút ra nhiều kinh nghiệm để áp dụng trong những lần nghiên cứu vaccine ngừa COVID-19 lần này. “Mọi thứ chúng tôi làm với những mầm bệnh khác đều xoay quanh những bài học kinh nghiệm chúng tôi đã học được từ việc đối phó với virus HIV”, ông Fauci nói với The Wall Street Journal vào tháng 12/2020.

Và tín hiệu đáng mừng, vào tháng 4 vừa qua, Moderna đã công bố kế hoạch tiến hành thử nghiệm giai đoạn 1 trong năm nay đối với 2 loại vaccine mRNA HIV.

 Vaccine COVID-19 được đúc rút từ những tiến bộ trong nghiên cứu vaccine ngừa HIV

Tầm ảnh hưởng khác nhau của 2 đại dịch

Chủ tịch Hiệp hội Quốc tế về AIDS Adeeba Kamarulzaman, cho biết: Virus HIV gây suy giảm miễn dịch ở nhóm đối tượng dễ bị tổn thương như đồng tính nam, mại dâm, người sử dụng ma túy, người chuyển giới và những người bị giam giữ. “Tương tự như vậy, SARS-CoV-2 đặc biệt tấn công những người dễ bị tổn thương nhưng lại là những người lớn tuổi, những người có các bệnh mãn tính như tiểu đường, béo phì, cao huyết áp và bệnh tim mạch; những người lao động nghèo; người di cư”, bà Kamarulzaman nói thêm.

Trong cả 2 đại dịch, các phương pháp cứu sống bệnh nhân bằng thuốc, vaccine đều đã rất khó khăn đối với những bệnh nhân thật sự cần nhất. Vào thời điểm đầu, khi liệu pháp kháng virus HIV ra mắt, nó được cho là loại thuốc kê đơn đắt nhất trong lịch sử, với chi phí khoảng 22.000 USD/bệnh nhân mỗi năm.

Do đó, những bệnh nhân nhiễm HIV ở các nước có thu nhập cao được điều trị bằng liệu pháp kháng virus. Tuy nhiên, hầu hết những người nhiễm HIV lại ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình thì lại rất khó khăn trong việc tiếp cận thuốc. “Giai đoạn từ năm 1996-2003 là đỉnh điểm của số người tử vong do HIV/AIDS”, Chris Beyrer, Giáo sư sức khỏe cộng đồng và nhân quyền tại Đại học Johns Hopkins, cho biết.

Năm 2001, sau cuộc chiến pháp lý kéo dài nhiều năm giữa Nam Phi và các công ty dược phẩm, các nước đang phát triển đã giành được quyền từ Tổ chức Thương mại Thế giới để sản xuất và nhập khẩu thuốc điều trị HIV/AIDS giá thấp. Với việc thành lập Quỹ Toàn cầu chống AIDS, lao và sốt rét vào năm 2002 và Kế hoạch cứu trợ khẩn cấp của cựu Tổng thống George W. Bush vào năm 2003, giá thuốc đã giảm mạnh, làm tăng khả năng tiếp cận được đối với các bệnh nhân HIV/AIDS, giúp cứu sống hàng chục triệu người đã lây nhiễm loại virus gây ra căn bệnh thế kỷ này.

Cho đến thời điểm hiện tại, đại dịch HIV/AIDS vẫn chưa kết thúc. Số ca mắc bệnh đã giảm 47% kể từ mức đỉnh điểm vào năm 1998. Tuy nhiên, sự bùng phát dịch COVID-19 và sự bất bình đẳng ở một số quốc gia đang đe dọa những nỗ lực của Liên Hợp Quốc trong việc tiến tới chấm dứt đại dịch HIV/AIDS vào năm 2030.

Giám đốc tổ chức Frontline AIDS Christine Stegling nhấn mạnh: “Đã 4 thập kỷ kể từ khi cuộc khủng hoảng HIV/AIDS xảy ra trên toàn cầu. Ở nhiều quốc gia, đại dịch HIV/AIDS chưa bao giờ kết thúc, thế giới chỉ đang ngừng nói về nó”. Vì vậy, bên cạnh việc đương đầu với dịch COVID-19, chúng ta cần phải tiếp tục, nỗ lực không ngừng nghỉ để đạt được những mục tiêu đã đề ra trong công tác phòng, chống HIV/AIDS và tiến tới chấm dứt đại dịch HIV/AIDS vào năm 2030.

Thùy Chi

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh