Điều trị Methadone và Buprenorphine đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận

Thứ bảy 26/12/2020 11:00

Sau hơn 10 năm triển khai điều trị Methadone tại Việt Nam và hơn 1 năm triển khai chương trình Buprenorphine, chương trình đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong việc giảm và tiến tới ngừng sử dụng ma túy bất hợp pháp trong nhóm bệnh nhân điều trị, giúp ổn định tâm lý và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng.

 TS. Hoàng Đình Cảnh, Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS. Ảnh: Thùy Chi

Để hiểu rõ hơn về chương trình này, phóng viên Trang tin Tiếng Chuông – Trang tin của Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm có buổi trao đổi với TS. Hoàng Đình Cảnh, Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS (Bộ Y tế).

Toàn quốc có hơn 52.000 bệnh nhân đang điều trị Methadone

Methadone đã được coi là “tiêu chuẩn vàng” trong điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện, xin ông cho biết tại sao chúng ta lại thí điểm Buprenorphine tại một số tỉnh miền núi phía Bắc?

TS. Hoàng Đình Cảnh: Nghiện ma túy, đặc biệt “nghiện các chất dạng thuốc phiện” là vấn đề nhức nhối trong xã hội, ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe, an ninh, trật tự và phát triển kinh tế xã hội. Nghiện ma túy được coi là bệnh mạn tính của não bộ, chưa có phương thuốc đặc hiệu để chữa khỏi. Các giải pháp cai nghiện hiệu quả không cao, tỷ lệ tái nghiện lên đến trên 90%. Trong bối cảnh đó, học tập kinh nghiệm của quốc tế và nhất là trong bối cảnh lây truyền HIV chủ yếu qua đường tiêm chích ma túy, Việt Nam bắt đầu triển khai thí điểm điều trị Methadone tại Hải Phòng và TPHCM từ tháng 04/2008.

Tiếp theo thành công của chương trình Methadone, trong năm 2019, Việt Nam tiếp tục triển khai thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Buprenorphine tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, nơi địa bàn đi lại khó khăn nhằm giúp người bệnh tăng độ tiếp cận với chương trình điều trị thay thế cũng như tăng mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh.

Sau hơn 10 năm triển khai chương trình Methadone và hơn 1 năm triển khai chương trình Buprenorphine, chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả nổi bật.

Theo số liệu thống kê, tính đến hết tháng 9/2020, trên toàn quốc hiện có 52.440 bệnh nhân điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại 340 cơ sở điều trị và 232 cơ sở cấp phát thuốc. Chương trình Buprenorphine hiện đang điều trị cho 600 bệnh nhân tại 08 tỉnh/thành phố.

Trong hơn 10 năm triển khai, một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật được ban hành tạo hành lang pháp lý và kỹ thuật cho công tác điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, với 02 Nghị định của Chính phủ, 01 Chỉ thị và 02 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 09 Thông tư và Thông tư liên tịch và 15 Hướng dẫn chuyên môn, tài liệu đào tạo và tổ chức đào tạo/đào tạo liên tục, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực,ứng dụng khoa học và công nghệ đã được ban hành.

Điều trị Methadone và Buprenorphine không chỉ giúp giảm những hành vi bất hợp pháp mà còn mang lại kết quả nổi bật về kinh tế xã hội, xin ông có thể nói rõ hơn về hiệu quả này?

TS. Hoàng Đình Cảnh: Chương trình mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho cá nhân, gia đình bệnh nhân và xã hội, giúp làm giảm đáng kể chi phí cho bệnh nhân và gia đình (do không phải mất tiền mua ma túy, không phải mất tiền đi cai nghiện ma túy, không tốn tiền điều trị các bệnh tật liên quan đến sử dụng ma túy).

Chương trình cũng góp phần làm giảm chi phí cho xã hội nói chung, giúp khắc phục những hậu quả khác của ma túy đối với xã hội (giảm vi phạm pháp luật sẽ giúp giảm chi phí về pháp luật liên quan đến ma túy, tiết kiệm các chi phí khác về y tế, cộng đồng...).

Theo ước tính, nếu không tham gia điều trị Methadone, trung bình một người nghiện tiêu tốn 230.000 đồng/ngày mua heroin (84 triệu đồng/năm). Như thế, với hơn 52.000 bệnh nhân đang điều trị Methadone, chương trình đã tiết kiệm được cho xã hội 4.372 tỷ đồng/năm (nếu tính từ thời điểm thí điểm năm 2008 cho đến nay, chương trình đã tiết kiệm cho xã hội khoảng 22.870 tỷ đồng (hơn 1 tỷ đô la Mỹ).

Bên cạnh các tác động về giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp, giảm vi phạm pháp luật, giảm gánh nặng về kinh tế cho bản thân và gia đình người nghiện và các tác động về xã hội, chương trình đã góp phần quan trọng vào thành công của chương trình phòng chống HIV/AIDS trong thời gian qua, nhất là giúp làm giảm mạnh lây truyền HIV qua đường máu nhất và các trường hợp nhiễm HIV mới. Đưa tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người nghiện chất ma túy giảm từ khoảng 30% năm 2001-2002 xuống còn 9,5% năm 2016 và tổng số trường hợp nhiễm mới HIV hằng năm giảm từ khoảng 30.000 ca từ những năm 2006-2007 xuống còn khoảng 10.000 ca năm 2015.

Đối với hiệu quả giảm hành vi nguy cơ lây nhiễm HIVvà tỷ lệ nhiễm HIV. Bệnh nhân giảm hành vi tiêm chích ma túy từ đó dẫn đến giảm lây nhiễm HIV. Ngoại trừ 05 tỉnh, thành ghi nhận 01 trường hợp nhiễm HIV mới, các tỉnh, thành báo cáo không phát hiện trường hợp nhiễm HIV mới trong tổng số bệnh nhân điều trị. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người nghiện chích ma túy giảm từ khoảng 30% năm 2001-2002 xuống còn 9,5% năm 2016 và tổng số trường hợp nhiễm mới HIV hằng năm giảm từ khoảng 30.000 ca từ những năm 2006-2007 xuống còn khoảng 10.000 ca năm 2015.

Kết quả từ các nghiên cứu do Bộ Y tế và các tỉnh, thành thực hiện thời gian qua đều ghi nhận hiệu quả của điều trị Methadone trong việc làm giảm đáng kể hành vi sử dụng ma túy trong nhóm bệnh nhân tham gia điều trị. Trước khi tham gia điều trị 100% bệnh nhân sử dụng Heroin, sau 24 tháng tỷ lệ này chỉ còn 15,8%; trước điều trị hầu hết bệnh nhân có tần suất sử dụng rất cao với 93,6% bệnh nhân sử dụng trên 3-5 lần/ngày, tuy nhiên sau 24 tháng điều trị không có bệnh nhân nào sử dụng từ 2 lần/ngày trở lên và tần suất sử dụng ma túy trong nhóm bệnh nhân còn tiếp tục sử dụng chỉ còn từ 2-3 lần/tháng.

Tạo đồng thuận xã hội trong triển khai chương trình

Đạt được rất nhiều kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên phía trước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức phải vượt qua, xin ông cho biết cụ thể hơn về những khó khăn, thách thức này?

TS. Hoàng Đình Cảnh: Mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành tương đối đầy đủ, tuy nhiên một số xung đột giữa các văn bản của các Bộ, ngành khác nhau liên quan đến điều trị nghiện cũng làm ảnh hưởng đến việc triển khai chương trình tại các địa phương.

Hiện nay, chúng ta khó khăn về nguồn kinh phí triển khai chương trình khi nguồn tài trợ quốc tế chấm dứt và nguồn chương trình mục tiêu còn chưa rõ ràng về cơ chế sau năm 2020.

Bên cạnh đó, nhân lực của các cơ sở điều trị hầu như đều quá tải, đa phần là kiêm nhiệm. Ngoài ra, cán bộ phải làm việc liên tục không có ngày nghỉ, trong môi trường căng thẳng, độc hại, nhiều khi còn bị bệnh nhân uy hiếp, đe dọa. Thiếu các chế độ để khuyến khích, thu hút và giữ chân các cán bộ nhân viên có năng lực dẫn đến sự thay đổi nhân sự liên tục và ảnh hưởng đến kết quả điều trị những hạn chế về năng lực chuyên môn (tỷ lệ thay đổi nhân sự trong 12 tháng qua là 43,2%, tỷ lệ cán bộ có kinh nghiệm dưới 1 năm chiếm tới 59,9%, mặc dù chương trình đã được triển khai từ 2008 cho tới nay).

Quan điểm, nhận thức của lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, các ngành và đoàn thể các cấp ở nhiều tỉnh, thành còn chưa thống nhất; chưa thực sự quan tâm, sâu sát, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành và đầu tư nguồn lực việc tổ chức triển khai chương trình tại địa phương; cấp ủy, chính quyền ở nhiều tổ, bản, tiểu khu có người nghiện mới, người tái nghiện chưa chủ động động viên, khuyến khích người nghiện tham gia điều trị Methadone.

Kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người nghiện đến nay vẫn được đánh giá là một trong những rào cản lớn nhất trong việc tiếp cận chương trình của người nghiện ma túy, nhất là khi nghiện là vấn đề phổ biến ở cả khu vực núi và đồng bằng, dẫn đến người nghiện ma túy còn ngại lộ diện để tiếp cận điều trị. Quy định “nghiện các chất ma túy là một tệ nạn xã hội nghiêm trọng”, “sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi phạm tội”[1] giai đoạn từ năm 2009 trở về trước đã tạo nên rào cản về tâm lý đối với người nghiện ma túy trong việc lộ diện để tiếp cận điều trị.

Methadone là liệu pháp điều trị lâu dài, nên đã có một số bệnh nhân không kiên trì đã bỏ trị sau nhiều năm tham gia. Việc bệnh nhân hằng ngày phải đến cơ sở điều trị để sử dụng thuốc chính là một trong những rào cản lớn đối với việc tiếp cận và duy trì điều trị của bệnh nhân, nhất là những người sinh sống xa cơ sở điều trị, điều kiện đi lại khó khăn như các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa và các trường hợp đi làm ăn xa. Đây cũng là tình trạng chung trong điều trị Methadone ở nhiều nước khác.

Đến nay đã có 37/63 tỉnh, thành thu phí điều trị Methadone và được các bệnh nhân chấp nhận. Tuy nhiên, một số nghiên cứu và báo cáo của một số địa phương cho thấy, thu phí cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến bỏ trị của bệnh nhân, nhất là trong bệnh nhân tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, đa số là người nghèo và điều kiện sống khó khăn.

Với những kết quả đã đạt được trong chặng đường 10 năm qua, xin ông cho biết, để đáp ứng với nhu cầu điều trị của bệnh nhân, nhất là việc hiện thực hóa mục tiêu giảm cung, giảm cầu và giảm tác hại của ma túy tại nước ta theo chỉ đạo của Chính phủ, chúng ta cần chú trọng các nhiệm vụ gì trong thời gian tới?

TS. Hoàng Đình Cảnh: Về cơ chế, chính sách, chúng tôi sẽ tiếp tục tham mưu, trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn và tạo thuận lợi cho việc triển khai chương trình nhất là các chính sách liên quan đến nguồn lực tài chính và nhân lực; tham mưu, trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản yêu cầu các tỉnh, thành thực hiện nghiêm các yêu cầu về nguồn lực đầu tư cho chương trình theo quy định.

Đối với công tác tuyên truyền, vận động, tiếp tục tăng cường đổi mới và đa dạng hóa các hình thức truyền thông, nhất là về hiệu quả và tác động của chương trình, tạo đồng thuận xã hội trong triển khai chương trình và góp phần giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nghiện để từ đó lộ diện và tiếp cận dịch vụ điều trị.

Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai chương trình, nhất là tại các địa phương trọng điểm về ma túy và HIV/AIDS. Đối với hoạt động chuyên môn, tiếp tục đôn đốc, giám sát và hỗ trợ các tỉnh, thành trong việc mở điểm cơ sở điều trị và cơ sở cấp phát thuốc mới, để qua đó tăng độ bao phủ của dịch vụ điều trị.

Ngoài ra, nâng cao vai trò ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều trị bệnh nhân, nhằm giúp giảm tải đối với cán bộ công tác tại các cơ sở điều trị. Và đa dạng hóa mô hình và cách thức triển khai, thí điểm việc cấp phát thuốc Methadone nhiều ngày tại một số tỉnh, thành phố làm cơ sở để nhân rộng ra toàn quốc.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Thùy Chi

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh