Bộ luật Hình sự quy định như thế nào về hành vi xâm phạm tình dục trẻ em
Tình hình tội phạm xâm hại tình dục trẻ em có xu hướng ngày càng gia tăng, gây tác động xấu cho xã hội. Đây là tội phạm nguy hiểm, gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến tâm sinh lý cho trẻ em bị xâm hại tình dục. Trừng phạt những hành vi xâm hại đã được quy định rất rõ trong Bộ luật Hình sự.
![]() |
Bảo vệ trẻ em là hành động cấp thiết hiện nay-Ảnh minh họa
Những quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015
Các tội phạm xâm hại tình dục được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 tại Chương XIV, gồm 7 điều luật từ Điều 141 đến Điều 147, trong đó có 5 điều quy định về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, so với Bộ luật Hình sự 2009, tội phạm về xâm hại tình dục trẻ em đã tăng lên 1 điều. Cụ thể như sau:
Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142)
Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 quy định Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, đó là hành vi “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu, thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ” hoặc “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”.
Khung hình phạt cho hai hành vi này từ 7 đến 15 năm tù.Nếu bị xác định có tính chất loạn luân, làm nạn nhân có thai, phạm tội hai lần trở lên, có tổ chức, nhiều người hiếp một người, phạm tội với người dưới 10 tuổi, làm nạn nhân chết hoặc tự sát…, người phạm tội sẽ bị phạt từ 12 đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định 1-5 năm.
Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144)
Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi được quy định tại Điều 144 Bộ luật Hình sự 2015, khái niệm “cưỡng dâm trẻ em” là hành vi “dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác”.
Khung hình phạt cho tội phạm này từ 5 đến 10 năm tù. Mức hình phạt sẽ tăng cao dần khi người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng nghiêm trọng như: làm nạn nhân có thai, biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội… Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định 1-5 năm.
Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi (Điều 145)
Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi quy định tại Điều 145 Bộ luật Hình sự. Chủ thể phạm tội của tội này là người đủ 18 tuổi trở lên, có hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi. Người phạm tội bị phạt sẽ bị phạt tù thấp nhất một năm, cao nhất 5 năm.
Nếu có thêm các hành vi nguy hiểm như: Phạm tội hai lần trở lên, phạm tội đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh, biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội… sẽ bị áp dụng khung hình phạt 3-15 năm. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định 1-5 năm.
Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146)
Tội phạm này được mô tả là “hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác”.
Khung hình phạt cho tội phạm này từ 06 tháng đến 03 năm. Khung hình phạt cao nhất của tội này đến 12 năm, kèm theo hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong 1-5 năm.
Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147)
Điều 147 xác định hành vi sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm thể hiện ở các dấu hiệu: lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức. Khung hình phạt cho tội phạm này mức án từ 6 tháng đến 3 năm. Tương tự như các tội trên, người phạm tội cũng sẽ phải chịu khung hình phạt mở rộng đến 12 năm nếu có thêm các tình tiết tăng nặng. Hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm.
Những khó khăn khi xử lý trong xử lý hành vi xâm hại trẻ em
Theo Tổng cục Cảnh sát , mỗi năm trung bình có 1.600- 1.800 vụ xâm hại trẻ em được phát hiện. Tuy nhiên, đây chưa phải con số cuối cùng vì thực tế có rất nhiều nạn nhân không lên tiếng.
Theo báo cáo của C43 Bộ Công an, năm 2017, tình trạng trẻ em bị xâm hại đang có diễn biến phức tạp, xu hướng ngày càng gia tăng và độ tuổi trẻ bị xâm hại ngày càng nhỏ. Hầu hết đều là nữ giới (80%), trong đó dưới 6 tuổi chiếm 278 em, từ 6-13 tuổi chiếm 1.333 em, từ 13-16 tuổi chiếm 2.538 em.
Trong khi nạn nhân còn rất non nớt thì kẻ phạm tội lại đa dạng, phức tạp. Kẻ phạm tội luôn có lý lịch sạch, chưa tiền án tiền sự, là những người gần gũi, thân thiết với nạn nhân. Họ thường lợi dụng trẻ ở nhà một mình, ngồi chơi nơi vắng vẻ hoặc xâm hại trẻ ngay tại trường học…
Bên cạnh đó, công tác phòng ngừa và điều tra, khám phá loại tội phạm này còn nhiều hạn chế. Phần lớn các vụ xâm hại đều do người dân, gia đình và nạn nhân đến tố cáo, còn các vụ do ngành công an phát hiện bằng các biện pháp nghiệp vụ chỉ chiếm 6%.
Khó khăn lớn nhất hiện nay là làm cách nào để phát hiện “yêu râu xanh”, trong khi nạn nhân còn quá nhỏ. Những vụ xâm hại rất ít khi bắt được quả tang, không có nhân chứng trực tiếp… Dấu vết phạm tội nhiều vụ án cực kỳ khó phát hiện trong quá trình điều tra.
Hơn nữa, định tội cho tội phạm vấn đề này cũng còn nhiều vướng mắc, có những vụ án khi giám định của Trung tâm pháp y thì khác, lên cấp trên lại khác. Nhận thức của cơ quan pháp luật khác nhau thì tội danh cũng khác, ví dụ chỉ cần kết luận “xâm hại” hay “dâm ô” thì hình thức xử lý cũng khác. Mặt khác, hiện nay cũng chưa có những quy định về giám định khẩn cấp đối với những vụ tố giác XHTD. Công tác phòng ngừa nghiệp vụ còn sơ hở, thiếu sót khi “bỏ lọt” người dưới 18 tuổi tham gia các băng nhóm tội phạm nhưng chưa được ngành công an quản lý.
Ở góc độ pháp lý, vẫn còn nhiều kẽ hở trong việc xử lý hành vi XHTD trẻ em. Đơn cử như với hành vi ấu dâm, rõ ràng hành vi của đối tượng xâm hại đến thân thể, nhân phẩm của nạn nhân, nhưng việc xác định tội danh gặp nhiều khó khăn do hậu quả để lại trên thân thể nạn nhân khó xác định.
Hiện các văn bản luật hiện hành chưa điều chỉnh được hết vấn đề này, pháp lý vẫn còn kẽ hở, gây khó khăn trong quá trình điều tra, xử lý tội phạm. Tổng cục Cảnh sát cho biết sẽ tham mưu cho lãnh đạo các cấp trong việc từng bước hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi luật cho phù hợp với thực tiễn.
