Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên mang lại lợi ích lâu dài

29/11/2017 16:44

Đầu tư vào chăm sóc sức khoẻ sinh sản/sức khỏe tình dục cho vị thành niên có thể mang lại lợi ích với chi phí hiệu quả hơn gấp 12 lần hoặc cao hơn so với mức đầu tư ban đầu.

Ông Bjorn Andersson, Giám Đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNFPA. Ảnh UNFPA

Đó là chia sẻ của ông Bjorn Andersson, Giám Đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNFPA tại Hội nghị Châu Á-Thái Bình Dương về sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục (SKSS/SKTD) lần thứ 9 đang diễn ra tại Hạ Long, Quảng Ninh.

Theo ông Bjorn Andersson, thiếu sự đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào chăm sóc SKSS/SKTD trong những giai đoạn quan trọng của cuộc sống đối với thanh niên và vị thành niên sẽ gây ra những tác động tiêu cực trong lĩnh vực y tế và giáo dục; trong các cơ hội việc làm và triển vọng tương lai của thanh niên và vị thành niên; xét ở góc độ tổng thể hơn, việc thiếu đầu tư này sẽ gây các tác động bất lợi tới sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia.

Các bằng chứng từ các quốc gia trong khu vực cho thấy thanh niên và vị thành niên đang bị bỏ lại phía sau, đặc biệt trong những lĩnh vực như chăm sóc SKSS/SKTD. Lý do khiến họ chưa được quan tâm thường liên quan tới những luật hoặc quy định mang nặng tính hạn chế, ngăn cấm. Các luật và quy định này hạn chế thanh niên và vị thành niên tiếp cận với các thông tin và các dịch vụ thiết yếu. Nguyên nhân dẫn tới những hạn chế này thường liên quan tới các chuẩn mực hoặc các phong tục văn hóa-xã hội.

Những con số báo động?

Ông Bjorn Andersson cho biết, ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương, mỗi năm có khoảng 10.000 trẻ em gái vị thành niên tử vong do các biến chứng liên quan tới thai nghén;

Hàng năm có 5,2 triệu trường hợp mang thai ở tuổi vị thành niên. Ở một số quốc gia, tỷ lệ trẻ em gái mang thai ở độ tuổi vị thành niên đang gia tăng mặc dù tỷ lệ này đang có xu hướng giảm trên phạm vi toàn cầu.

Có khoảng 6,3 triệu trẻ em gái vị thành niên hiện có quan hệ tình dục nhưng chưa được đáp ứng các nhu cầu về phương tiện tránh thai. Con số này tương đương với 24% tổng số trẻ em gái vị thành niên đã kết hôn và tương đương với 50% tổng số em gái vị thành niên có quan hệ tình dục nhưng chưa kết hôn.

Hiện có 510.000 thanh niên và vị thành niên đang sống chung với HIV. Chỉ tính riêng khu vực  Châu Á Thái Bình Dương, số ca nhiễm mới hàng năm là 90.000 ca. Rất nhiều người trong số họ thuộc các nhóm quần thể đích như nhóm nam quan hệ tình dục với nam, nhóm dân số thanh niên/vị thành niên chuyển giới, thanh niên và vị thành niên bán dâm hoặc thanh niên/vị thành niên sử dụng ma túy.

Trên thực tế, mỗi trẻ vị thành niên trong số 1,2 tỷ vị thành niên trên toàn thế giới hiện nay đều sẽ phải trải qua giai đoạn dậy thì  - giai đoạn sinh học khởi đầu khi trở thành vị thành niên.

Một số em được chuẩn bị một cách kỹ càng cho giai đoạn này, các em sẽ tiếp tục được theo học các bậc học cao hơn, sẽ được cung cấp các thông tin và kỹ năng cần thiết để có được các hành vi tình dục an toàn và thoải mái. Các em cũng có cơ hội để lựa chọn người bạn đời đồng hành với mình; có thể quyết định thời điểm lập gia đình; có thể có cơ hội tìm kiếm các công việc thỏa đáng đồng thời có thể đóng những vai trò quan trọng tại cộng đồng.

Tuy nhiên có rất nhiều thanh niên và vị thành niên đặc biệt là nữ thanh niên và trẻ em gái vị thành niên hoàn toàn không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho một giai đoạn mới đầy thử thách này trong cuộc sống của mình. Các em phải bỏ học từ sớm, không được giáo dục gì về giới tính, phải kết hôn khi độ tuổi còn quá trẻ, thậm chí phải sinh con khi chính bản thân các em còn ở trong tuổi trẻ con.

Sự bất bình đẳng giới cộng với chế độ gia trưởng và các yếu tố văn hóa xã hội có  hại khác khiến cho thế giới của một em gái vị thành niên ngày càng thu nhỏ ngay tại giai đoạn các em ở tuổi dậy thì. Chính những yếu tố này khiến các em phải rời bỏ ghế nhà trường, phải tảo hôn và sinh con sớm và chỉ có những cơ hội hiếm hoi để theo đuổi sự nghiệp và công việc cho mình.

“Cũng cần lưu ý rằng những sự kỳ thị và phân biệt đối xử kéo dài đồng nghĩa với việc chúng ta chưa tiếp cận được và chưa thực hiện đầu tư thỏa đáng vào các nhóm dân số trẻ (thanh niên và vị thành niên) bên lề xã hội. Các nhóm dân số này bao gồm thanh niên và vị thành niên sinh sống tại các vùng sâu vùng xa, thanh niên/vị thành niên sinh sống tại các khu ổ chuột tại các khu vực đô thị, vị thành niên khuyết tật, thanh niên/vị thành niên di cư và thanh niên/vị thành niên là con em các dân tộc thiểu số, thanh niên/vị thành niên thuộc các nhóm dân số chủ chốt.

Sự cam kết của chúng ta chưa đủ mạnh và chúng ta chưa thực hiện đầu tư đúng mức nhằm đảm bảo rằng tất cả vị thành niên đặc biệt là các em gái có thể phát huy đầy đủ tiềm năng của mình”, ông Bjorn Andersson nói.

Giáo dục giới tính toàn diện cho vị thành niên

Đã có nhiều bằng chứng rõ ràng cho thấy công tác giáo dục giới tính toàn diện từ bậc tiểu học với trọng tâm là bình đẳng giới sẽ giúp các em trai và các em gái có được các kỹ năng giao tiếp tốt hơn và có sự tôn trọng đối với nhau, sẽ giúp các em tạo lập được sự tự trọng cần thiết đồng thời giúp các em hiểu vấn đề cần tôn trọng sự khác biệt.

Giáo dục giới tính toàn diện sẽ truyền đạt các thông tin quan trọng, xây dựng và củng cố các kỹ năng ra quyết định để thanh niên và vị thành niên có thể thực hiện các lựa chọn an toàn và đồng thuận, hoặc có thể đưa ra các quyết định liên quan tới thời điểm có quan hệ tình dục.

“Chúng ta sẽ không đạt được các tiến bộ trong giảm bất bình đẳng giới (bao gồm giảm bạo lực giới) đồng thời không đạt được các tiến bộ trong giảm tỷ lệ mang thai ở tuổi vị thành niên và giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV nếu chúng ta không thực sự có những cam kết sẽ nỗ lực hơn nữa để nâng cao chất lượng giáo dục giới tính toàn diện.

Tất cả những điều này cho chúng ta thấy một nhu cầu rõ ràng rằng chúng ta cần xây dựng và thực thi các luật và các chính sách hỗ trợ nhằm đảm bảo rằng thanh niên/vị thành niên được chăm sóc tốt về Sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục đồn thời đảm bảo rằng các quyền về chăm sóc Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục của họ được thực hiện đầy đủ”, ông Bjorn Andersson kêu gọi.

Các luật và chính sách hỗ trợ này cần thừa nhận tiềm năng ngày càng lớn mạnh của thanh niên và vị thành niên, cho phép họ tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản/sức khỏe tình dục mà không cần phải có sự đồng ý của cha mẹ.

Đầu tư vào chăm sóc sức khoẻ sinh sản/sức khỏe tình dục cho vị thành niên có thể mang lại lợi ích với chi phí hiệu quả hơn gấp 12 lần hoặc cao hơn so với mức đầu tư ban đầu.

Có thể lấy ví dụ đối với việc cung cấp vắc xin phòng chống ung thư cổ tử cung HPV. Tỷ số chi phí/lợi ích của việc tiêm phòng HPV có thể lên tới 22. Với tỷ số này, tại sao tất cả các quốc gia trong khu vực không thực hiện một chương trình quốc gia về cung cấp vắc xin HPV cho thanh niên và vị thành niên trước khi họ bắt đầu có quan hệ tình dục?

Chỉ với mức đầu tư khoảng 5 USD mỗi đầu người mỗi năm có thể giúp chúng ta cải thiện sức khoẻ cho thanh niên và vị thành niên và sẽ cứu được mạng sống của 12,5 triệu thanh niên và vị thành niên, có thể giúp ngăn ngừa hơn 30 triệu trường hợp mang thai ngoài ý muốn, giảm sự lan tràn tình trạng khuyết tật và mang lại lợi ích kinh tế và xã hội cao gấp 10 lần chi phí bỏ ra, đây là một mức lợi tức đầu tư cao đáng kể.

Cuối cùng, cần khuyến khích thanh niên và vị thành niên đảm đương công tác lãnh đạo và khuyến khích sự tham gia của họ trong công tác xây dựng và thực hiện các chương trình. Hãy bỏ qua những cách thức và việc làm mang tính chiếu lệ, hãy ngừng áp dụng cách thức nói chuyện với thanh niên và vị thành niên theo cách nói chuyện bề trên hay kẻ cả và đừng nói với họ những câu chuyện không thành thật. Hãy thực sự cùng chung tay hợp tác với nhau một cách công bằng để cùng nhau vững bước trên con đường hướng tới tương lai.

Hãy cùng chung tay tìm ra các cách thức giải quyết tất cả các vấn đề nêu trên để thanh niên và vị thành niên được hưởng sự công bằng mà họ đáng được hưởng nếu chúng ta thực sự muốn đạt được mục tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau”.

}
Top