Điều trị ARV sớm làm giảm khả năng lây nhiễm HIV
Ngày càng nhiều người nhiễm HIV có cơ hội được tiếp cận với thuốc điều trị ARV và các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ. Điều đó không chỉ làm thay đổi cuộc sống của người nhiễm HIV như kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn làm giảm khả năng lây nhiễm HIV ra cộng đồng.
![]() |
| Uống thuốc ARV tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội Vũng Tàu |
Lợi ích của điều trị sớm ARV
PGS.TS Bùi Đức Dương, Cục phó Cục phòng, chống HIV/AIDS (Bộ Y tế) cho biết, thời điểm nhiễm HIV thường khó biết vì thể trạng bệnh nhân gần như bình thường. Trong suốt quá trình từ khi nhiễm HIV đến khi có các biểu hiện triệu chứng lâm sàng và điều trị ARV là một quá trình khá dài. Giai đoạn này tải lượng virus trong cơ thể họ rất cao nên khả năng lây nhiễm trong giai đoạn này là rất lớn. Thế nhưng khi bệnh nhân được điều trị ARV, chỉ trong vòng từ 6-8 tuần thì tải lượng virus trong máu giảm đi rất nhanh và khả năng lây nhiễm gần như không còn. Sau đó việc điều trị này cho người nhiễm HIV/AIDS cũng giống như điều trị một bệnh mãn tính khác như đái tháo đường, tăng huyết áp… Vì vậy, điều trị càng gần với giai đoạn được chẩn đoán thì khả năng lây nhiễm cho người xung quanh được hạn chế.
Quan điểm mới gần đây coi việc điều trị ARV là một biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV. Qua các nghiên cứu của nhiều quốc gia (HPTN 052) cho biết, nếu điều trị sớm ARV cho những cặp bạn tình “trái dấu” sẽ làm giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV tới 96%. Còn nếu điều trị sớm ARV cho những người nhiễm HIV sẽ giảm khả năng bị bệnh lao ở người nhiễm HIV tới 65%. Việc điều trị sớm không chỉ dự phòng mà còn làm giảm tỷ lệ các nhiễm trùng cơ hội, giảm tử vong những bệnh liên quan đến HIV/AIDS.
Thực tế ở nước ta cũng cho thấy, khi triển khai tăng cường hệ thống điều trị, số lượng bệnh nhân tử vong giảm đi rất rõ rệt. Năm 2007-2008 có 7.000-8.000 bệnh nhân tử vong/năm, đến năm 2010-2011 giảm xuống còn 1.700-1.800 bệnh nhân tử vong/năm. 6 tháng đầu năm 2012 còn 600 bệnh nhân tử vong. Vì vậy vai trò của điều trị, đặc biệt là phát hiện và điều trị sớm là rất quan trọng và cần tăng cường mở rộng các dịch vụ có liên quan đến dự phòng, chăm sóc và điều trị.
Làm thế nào để có thể phát hiện sớm ?
Để phát hiện và điều trị sớm, điều quan trọng là bản thân người bệnh khi có hành vi nguy cơ cao họ phải biết và đi xét nghiệm. Muốn như vậy, việc tuyên truyền cho họ (những người có hành vi nguy cơ cao) đi xét nghiệm tự nguyện và khuyến khích họ đến xét nghiệm nhiều lần là rất quan trọng, vì không phải xét nghiệm 1 lần thấy âm tính là có thể yên tâm.
Để phát hiện được sớm cần triển khai dịch vụ xét nghiệm này xuống cộng đồng, đặc biệt ở những nơi có tình hình dịch HIV cao và có nhiều người có yếu tố nguy cơ, ví dụ người nghiện chích ma túy, gái mại dâm và MSM... Dịch vụ xét nghiệm phải thuận lợi cho người bệnh và phải dễ dàng triển khai bởi hệ thống y tế cơ sở. Đây là xu hướng của các tổ chức quốc tế mà nước ta cũng đang áp dụng. Điều quan trọng sau khi được chẩn đoán họ phải được quản lý, theo dõi và điều trị khi có thể.
Hiện nay dựa trên hệ thống y tế sẵn có của Việt Nam, đặc biệt là hệ thống y tế xã phường, chúng ta sẽ cung cấp thuốc ARV cho bệnh nhân và trạm y tế sẽ quản lý cả nhiễm trùng cơ hội và các biện pháp can thiệp giảm hại khác để phòng bệnh. Y tế xã phường là nơi thuận lợi nhất cung cấp các dịch vụ này một cách lâu dài và đảm bảo tính bền vững cho người bệnh tiếp cận được.
Được biết, từ năm 2010-2011 chúng ta đã nâng ngưỡng bắt đầu điều trị với CD4 là 350. Hiện nay ở nước ta tại Điện Biên và Cần Thơ bắt đầu điều trị với ngưỡng CD4 trên 350 (lúc chưa có dấu hiệu lâm sàng) cho những cặp bạn tình “trái dấu để bảo vệ cho người âm tính. Từ nay đến năm 2015 có 4 đối tượng được ưu tiên, đó là trẻ em bị nhiễm HIV (xét nghiệm HIV là điều trị ngay không cần biết CD4 là bao nhiêu), phụ nữ mang thai (xét nghiệm khi mang thai và điều trị cho họ càng sớm càng tốt), lao/HIV và các cặp bạn tình trái dấu (mở rộng điều trị). Trong tương lai xa sẽ nhắm tới người nghiện chích ma túy vì đây là đối tượng dễ nhiễm, dễ lây lan. Điều trị được như vậy chúng ta sẽ giảm được số lượng yếu tố nguy cơ cao.
Tuy nhiên, khi tăng ngưỡng CD4 bắt đầu điều trị sẽ có nhiều bệnh nhân có nhu cầu điều trị, đồng nghĩa với việc tăng số lượng thuốc để đảm bảo duy trì lâu dài cho họ. Số lượng bệnh nhân điều trị tăng lên sẽ kéo theo kinh phí để mua thuốc điều trị đáp ứng cho người cũ và người mới. Đây là mối quan tâm lớn đối với chính phủ Việt Nam cũng như Bộ Y tế để làm sao duy trì lâu dài hoạt động này. Và kéo theo đó là nguồn nhân lực phải bao phủ rộng khắp để tổ chức triển khai thực hiện cung cấp dịch vụ này.
Ứng phó thế nào?
Cũng theo PGS.TS Bùi Đức Dương, trước hết là về nguồn kinh phí, Chính phủ đang giao cho Bộ Y tế xây dựng dự án huy động nguồn vốn cho hệ thống phòng chống HIV/AIDS trong đó có nguồn kinh phí mua ARV cung cấp điều trị cho bệnh nhân đảm bảo lâu dài. Trong đó phải sử dụng nhiều nguồn khác nhau, từ nguồn ngân sách nhà nước, trung ương, địa phương, thông qua hệ thống bảo hiểm y tế, xã hội hóa các dịch vụ, kêu gọi đầu tư của các tổ chức quốc tế…
Để làm được việc này thì cần phải nâng cao năng lực, đào tạo cho hệ thống y tế cơ sở từ huyện đến xã phường, thôn bản. Khi lồng ghép vào hệ thống y tế chung sẽ giảm tải một số chi phí cho người bệnh cũng như của thầy thuốc.
Trong thời gian tới các dự án và chương trình mục tiêu quốc gia phải hỗ trợ đầu tư tăng dần từng bước một để bù đắp nguồn lực sẽ bị cắt giảm của các tổ chức quốc tế, tăng từng bước kinh phí mua thuốc và các kinh phí hỗ trợ cho hệ thống này.
