Giám đốc UNAIDS: Việt Nam có bước tiến quan trọng trong phòng, chống HIV/AIDS

13/06/2012 16:04

Với việc xây dựng và ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, Việt Nam đã có bước tiến quan trọng trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 607/QĐ-TTg ngày 25/5/2012 về  việc Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Nhân dịp này, phóng viên Trang tin của UBQG phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm đã có cuộc phỏng vấn ông Eamonn Murphy. Giám đốc Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV (UNAIDS) tại Việt Nam về công tác phòng, chống HIV/AIDS của Việt Nam.

PV: Xin chào ông Eamonn Murphy, cảm ơn ông đã nhận lời tham dự buổi phỏng vấn với trang tin điện tử “Tiếng Chuông” của Ủy ban quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm. Trên cương vị là người đã có nhiều năm gắn bó với công tác phòng, chống HIV/AIDS, ông đánh giá thế nào về công tác phòng, chống HIV/AIDS của Việt Nam những năm qua?

Ông Eamonn Murphy:

Ông Eamonn Murphy. Giám đốc Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV (UNAIDS) tại Việt Nam. 

Những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong việc phòng ngừa sự lây lan của HIV cũng như điều trị cho những người sống với HIV, thể hiện qua một số điểm quan trọng như:

Ủy ban quốc gia về phòng chống AIDS, phòng chống tệ nạn ma túy và mại dâm ngày càng phát huy vai trò điều phối đa ngành trong đáp ứng với dịch. Khung pháp lý và chính sách liên quan đến HIV đã không ngừng được củng cố và hoàn thiện.

Độ bao phủ của chương trình điều trị HIV đã được mở rộng đáng kể, hiện đang điều trị kéo dài cuộc sống được cho hơn 50% số người sống với HIV đủ điều kiện tham gia điều trị. Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc thực hiện tiếp cận phổ cập về điều trị HIV, như với việc thí điểm thực hiện sáng kiến Điều trị 2.0, và mục tiêu đến năm 2020 sẽ cung cấp điều trị cho 80% số người cần được điều trị.

Việt Nam cũng đã đẩy mạnh các dịch vụ giảm tác hại cho những nhóm người có nguy cơ lây nhiễm HIV cao. Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho những người tiêm chích ma túy đã và đang được mở rộng, với mục tiêu đến năm 2015 có khoảng 80.000 người nghiện tiêm chích heroin được điều trị bằng Methadone. Chương trình 100% bao cao su và các hoạt động phân phát và tiếp thị xã hội bao cao su đã giúp những người bán dân và nam quan hệ tình dục đồng giới giảm nguy cơ lây nhiễm HIV.

Chính phủ Việt Nam đã hoàn thành việc xây dựng Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 với sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan. Các mục tiêu của Chiến lược quốc gia mới nhất quán với các mục tiêu nêu ra trong Tuyên bố chính trị của LHQ về HIV/AIDS năm 2011, thể hiện cam kết của Việt Nam trong việc hướng tới mục tiêu không còn người nhiễm HIV mới, không còn phân biệt đối xử và không còn người tử vong do AIDS.

Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng thí điểm sáng kiến điều trị 2.0

Việt Nam cũng đã nỗ lực tăng nguồn lực trong nước dành cho phòng chống HIV/AIDS. Việt Nam đã tăng ngân sách quốc gia cho phòng chống HIV lên ba lần trong vòng 5 năm qua, đã đưa Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV thành Chương trình mục tiêu quốc gia độc lập để tăng ngân sách quốc gia năm 2012 cho phòng, chống HIV lên 20% so với năm 2011.

Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống HIV của Việt Nam trong thời gian gần đây và sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam ứng phó với HIV trong những năm tới.

PV: Ông có nhận xét gì về Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 vừa được Chính phủ Việt Nam ban hành?

Ông Eamonn Murphy:

Trước hết, Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đã được Việt Nam xây dựng dựa trên chiến lược của giai đoạn trước. Từ những kết quả của việc thực hiện chiến lược đó, Việt Nam đã xác định được những khó khăn, thuận lợi cũng như việc đề ra những giải pháp ứng phó với HIV trong giai đoạn mới, hướng đến thực hiện những mục tiêu chung về HIV của cộng đồng quốc tế.

Một trong những thành tựu nổi bật mà Việt Nam đã đạt được trong việc xây dựng chiến lược lần này là bên cạnh việc tham vấn của các cơ quan chức năng, Việt Nam đã huy động được sự tham gia, góp ý tích cực của các bên liên quan khác trong phòng, chống HIV, như các tổ chức quốc tế, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức cộng đồng và đặc biệt là của những người đang sống với HIV và những nhóm người có nguy cơ lây nhiễm cao.

Chiến lược lần này cũng phân tích và đánh giá cụ thể hơn những vấn đề về giới trong việc ứng phó với HIV. Đây là thành tựu quan trọng vì như chúng ta đã biết tại Việt Nam, số phụ nữ sống với HIV đang ngày càng tăng so với nam giới, số hiện nhiễm HIV trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới vẫn còn ở mức cao. Điều đó có nghĩa là HIV đang lây truyền nhiều hơn từ những người nam tiêm chích ma túy hay những người nam quan hệ tình dục đồng giới sang vợ và bạn tình của họ.

Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam tiến hành phân tích đánh giá các nguồn lực dành cho HIV/AIDS ở cấp quốc gia (NASA). Trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược. Từ đó, xác định các nhu cầu về nguồn lực cho việc thực hiện chiến lược trong thời gian tới.

Các tổ chức Liên Hợp Quốc tự hào vì đã tham gia vào quá trình xây dựng chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Việt Nam thông qua các tư vấn chính sách và hỗ trợ kỹ thuật. Chúng tôi sẽ tiếp tục sát cánh cùng Việt Nam trong việc thực hiện chiến lược này.

PV: Một trong những giải pháp quan trọng được đề ra trong chiến lược mới là đổi mới, mở rộng và nâng cao chất lượng của công tác thông tin giáo dục và truyền thông về HIV. Ông đánh giá thế nào về tầm quan trọng của giải pháp này và làm thế nào để đẩy mạnh hơn nữa việc triển khai giải pháp này trong thời gian tới?

Ông Eamonn Murphy:

Thông tin, truyền thông có tác động mạnh mẽ, ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, thái độ, hành vi của mỗi người. Trong phòng, chống HIV công tác thông tin, truyền thông có vai trò đặc biệt quan trọng. Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa đa dạng, bao gồm nhiều dân tộc nên vai trò thông tin giáo dục và truyền thông càng phải được chú trọng và đẩy mạnh.

Truyền thông hiệu quả là giúp người dân hiểu đúng, đầy đủ về các con đường lây truyền HIV và những biện pháp phòng tránh. Nếu hiểu sai lệch về đường lây truyền HIV sẽ dẫn đến sự sợ hãi của mọi người, từ đó gây nên kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV.  Các cơ quan thông tấn, báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các thông tin chính xác và giúp giảm kỳ thị phân biệt đối xử.

Bên cạnh truyền thông đại chúng, các chương trình giáo dục, truyền thông cụ thể cần tập trung vào các nhóm có nguy cơ lây nhiễm cao gồm những người tiêm chích ma túy, người bán dâm, nam có quan hệ tình dục đồng giới và bạn tình của họ, đặc biệt là thông qua mạng lưới tuyên truyền viên đồng đẳng, vì những người này thường không dễ tiếp cận được bằng phương tiện truyền thông đại chúng.

Chính phủ Việt Nam đã nhìn nhận được tầm quan trọng của việc phối hợp các chiến lược truyền thông khác nhau. Tôi tin Việt Nam có đủ chuyên gia để thực hiện tốt các chiến lược giáo dục truyền thông về phòng, chống HIV.

PV: Việt Nam hiện là một trong 5 nước trên thế giới lựa chọn áp dụng thí điểm mô hình tiếp cận điều trị 2.0. Ông có thể cho biết những ưu điểm của phương pháp điều trị mới này, cũng như những khó khăn trong việc mở rộng điều trị HIV/AIDS tại Việt Nam  thời gian tới?

Ông Eamonn Murphy:

Việt Nam đang đi đầu trong việc thí điểm sáng kiến Điều trị 2.0. Việc áp dụng thí điểm sáng kiến điều trị mới này một lần nữa cho thấy quyết tâm của Việt Nam trong việc thực hiện tiếp cận phổ cập tới các dịch vụ toàn diện về HIV.

Điều trị 2.0 là một sáng kiến chung của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Chương trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), bao gồm một phác đồ thuốc tối ưu hơn cho những người sống với HIV, các công cụ chẩn đoán rẻ và đơn giản hơn và dịch vụ chủ yếu do các cộng đồng tự thực hiện với chi phí thấp.

Với sáng kiến mới này, người nhiễm HIV sẽ có cơ hội được điều trị sớm hơn. Nếu được điều trị HIV sớm, trước hết sức khỏe của người bệnh sẽ được cải thiện, từ đó họ có thể đóng góp sức lao động cho xã hội và chăm sóc gia đình, đồng thời giảm bớt nguy cơ lây truyền HIV sang người khác.

Tại Việt Nam, sáng kiến điều trị 2.0 đang được thí điểm ở hai tỉnh Điện Biên và Cần Thơ. Đây là hai tỉnh có nhiều điểm khác biệt kể cả về mặt địa lý cũng như về hình thái dịch HIV và cả hai tỉnh đều đang nỗ lực tìm ra những cách thức phù hợp với địa phương mình để triển khai hiệu quả.

Để duy trì tính bền vững của sáng kiến điều trị 2.0 cũng như của chương trình điều trị HIV nói chung, Việt Nam sẽ phải lường trước nhiều vấn đề khó khăn, đặc biệt là những khó khăn trong việc cung ứng thuốc ARV (thuốc điều trị HIV).

Hiện nay hơn 70%  nguồn lực trong phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam là từ các nguồn tài trợ quốc tế. Từ nay đến 2015, khi các nguồn tài trợ này giảm dần, Việt Nam cần xây dựng kế hoạch cụ thể để đảm bảo lấp đầy phần thiếu hụt về ngân sách.

PV: Được biết sau hơn 4 năm hỗ trợ công tác phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam, thời gian tới ông sẽ chuyển sang công tác tại một quốc gia Đông Nam Á khác là Myanmar. Ông có thể cho biết sẽ mang những kinh nghiệm gì từ Việt Nam sang Myanmar trên cương vị mới?

Dịch HIV tại Myanmar có một số điểm khác biệt so với Việt Nam. Nhưng về các mặt như cam kết chính trị, huy động nguồn lực, nâng cao năng lực kỹ thuật phòng, chống HIV/AIDS, Myanmar có thể học hỏi nhiều từ những kinh nghiệm quý báu của Việt Nam.

Trước hết là vai trò lãnh đạo mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam trong phòng, chống HIV/AIDS. Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt chiến lược quốc gia phòng chống HIV đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã và đang lãnh đạo Ủy ban quốc gia về phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm. Điều này khuyến khích cam kết và hành động mạnh mẽ của các Bộ, ngành, địa phương và toàn xã hội tích cực và chủ động tham gia vào công tác này.

Hiện nay, ở Myanmar dịch HIV/AIDS tập trung chủ yếu trong nhóm người nghiện chích ma túy, nhưng Myanmar chưa có chương trình Methadone. Do đó, Myanmar có thể tham khảo việc xây dựng thí điểm, triển khai, mở rộng chương trình Methadone đang được Việt Nam thực hiện có hiệu quả.

Theo tôi, mô hình ứng phó với HIV tại Hải Phòng, đặc biệt là chương trình Methadone của Hải Phòng là mô hình phù hợp để áp dụng tại Myanmar.

Tháng 9 tới đây, hội nghị về điều trị 2.0 của khu vực châu Á - Thái Bình Dương sẽ được tổ chức tại Myanmar. Dự kiến Việt Nam sẽ có đoàn đại biểu rất mạnh tham dự hội nghị này. Đây là cơ hội để hai nước Việt Nam và Myanmar tăng cường, mở rộng hơn nữa hợp tác Nam-Nam (hợp tác của các nước phương Nam) trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS.

Xin chân thành cảm ơn ông Eamonn Murphy vì những đóng góp quan trọng của ông trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS của Việt Nam. Chúc ông luôn mạnh khỏe để hoàn thành tốt nhiệm vụ trên cương vị mới.

}
Top