Cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS vẫn còn nhiều hạn chế
Theo thông tin từ Bộ Y tế, sau 5 năm thực hiện Chiến lược Dân số -Sức khỏe sinh sản (DS-SKSS) giai đoạn 2011-2020, công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình (DS-KKHGĐ) đã đạt được những kết quả quan trọng, cơ bản đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu giai đoạn 1 của Chiến lược DS-SKSS đã đề ra, trong đó kết quả duy trì mức sinh thay thế liên tục trong 10 năm (2005-2015) là thành công mà ít quốc gia trên thế giới làm được.
Cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS được tăng cường về số lượng, chất lượng và được mở rộng nhiều hình thức cung cấp cho phù hợp với đặc điểm, nhu cầu của các nhóm khách hàng, góp phần bảo đảm được tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) ở mức cao tới 76,2% để duy trì tổng tỷ sinh ở mức 2,1 con năm 2015. Tuy nhiên, việc cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém và không còn phù hợp với chính sách mới và tình hình thực tiễn, thậm chí còn là cản trở đối với sự phát triển bền vững của chương trình DS-KHHGĐ.
![]() |
| Ảnh minh họa. Nguồn internet |
Đầu tiên phải kể đến mức độ phổ cập BPTT chưa đạt yêu cầu đề ra của Chiến lược DS-SKSS đến năm 2015 và nhiều khả năng không đáp ứng nhu cầu số lượng, chất lượng các dịch vụ KHHGĐ/SKSS
Cơ hội tiếp cận dịch vụ KHHGĐ/SKSS còn nhiều hạn chế về Khoảng cách, khả năng lựa chọn và chất lượng dịch vụ; nhu cầu tránh thai chưa được đáp ứng còn khá cao: chiếm 11,2% trong nhóm phụ nữ có chồng, tới 22,7% trong nhóm phụ nữ chưa chồng và khoảng 35% trong nhóm thanh niên, vị thành niên.
Yêu cầu về số lượng, chất lượng BPTT tiếp tục gia tăng trong giai đoạn 2016-2020 để duy trì mức sinh thay thế, bao gồm số thay thế BPTT đã hết tác dụng tránh thai và số BPTT phải tăng thêm cho số phụ nữ trong tuổi sinh đẻ 15-49 tuổi tăng từ 25,1 triệu người năm 2015 tăng lên 25,4 triệu người năm 2020, nhất là cho các nhóm khách hàng mới bước vào độ tuổi sinh đẻ.
Tiếp đến, các cơ sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS còn nhiều hạn chế trong việc bảo đảm sự thuận tiện, khả năng lựa chọn dịch vụ và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng về chất lượng, hình thức của các nhóm khách hàng.
Các dịch vụ KHHGĐ/SKSS đã được phân tuyến cho các cơ sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS, song thực trạng việc cung cấp dịch vụ ở các tuyến còn nhiều hạn chế, nên nhiều khả năng không bảo đảm sự thuận tiện về Khoảng cách đi lại, về mở rộng sự lựa chọn trong nhiều cơ sở có cung cấp dịch vụ và hạn chế trong việc đáp ứng nhu cầu về số lượng, chất lượng dịch vụ và đặc biệt là không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng về dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng cho các nhóm khách hàng có điều kiện kinh tế, hoàn cảnh khác nhau.
Trạm y tế xã là đơn vị chăm sóc sức khỏe ban đầu của hệ thống y tế công lập ở tuyến cơ sở. Đến năm 2013 có 98,9% số xã có trạm y tế, 75% trạm y tế có bác sỹ, 96% trạm y tế có y sỹ sản nhi hoặc nữ hộ sinh trung học và 40% trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế.
Bên cạnh đó, trạm y tế xã là nơi gần dân nhất và đã bao phủ rộng khắp các khu dân cư trong cả nước, nhưng mức độ cung cấp dịch vụ KHHGĐ rất thấp: trạm y tế xã chỉ cung cấp dịch vụ đặt, tháo dụng cụ tử cung, tiêm thuốc tránh thai và một số dịch vụ chăm sóc SKSS (một số xã vẫn chưa được phép đặt dụng cụ tử cung theo quy định của tỉnh). Mặt khác, trạm y tế xã thực hiện các dịch vụ bao cấp một phần hoặc toàn bộ, nên trình độ chuyên môn, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phát triển chậm hơn so với khu vực tư nhân và bệnh viện. Chất lượng dịch vụ KHHGĐ/SKSS được đánh giá thấp, cùng với việc nhận thức không đầy đủ về các dịch vụ KHHGĐ/SKSS, dẫn tới tình trạng suy giảm về số lượng tuyệt đối và tỷ lệ tương đối việc cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS từ trạm y tế.
Bệnh viện các cấp, phòng khám đa khoa khu vực, trung tâm chăm sóc SKSS cấp tỉnh, khoa SKSS thuộc Trung tâm y tế cấp huyện cung cấp các dịch vụ KHHGĐ/SKSS miễn phí và một phần nhỏ các dịch vụ theo yêu cầu có thu phí dịch vụ của khách hàng. Tuy có phạm vi dịch vụ rộng, nhưng Khoảng cách đi lại khá xa so với số đông khách hàng và đặc biệt là Khoảng cách giữa bệnh nhân với y, bác sỹ mà không phải là mối quan hệ giữa khách hàng với người bán hàng.
Trạm y tế của cơ quan, xí nghiệp, nông lâm trường (năm 2014 có khoảng 700 cơ sở thực hiện chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, công nhân viên trong đơn vị, trong đó có thực hiện các dịch vụ KHHGĐ/SKSS (không bao gồm các cơ sở y tế của các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang).
Y tế tư nhân chậm mở rộng, phát triển sau nhiều năm thực hiện chính sách xã hội hóa sự nghiệp y tế. Cơ sở y tế tư nhân tham gia cung cấp các dịch vụ SKSS là chủ yếu, nhất là thăm khám thai hoặc phá thai cho thanh niên/vị thành niên, nơi được giữ bí mật hơn và thân thiện hơn so với các cơ sở y tế công lập. Cơ sở y tế tư nhân ít tham gia cung cấp các dịch vụ KHHGĐ bởi các dịch vụ này được cung cấp miễn phí cho đa số khách hàng và do cơ sở y tế công lập đảm nhận.
Mặc dù, khách hàng làm dịch vụ KHHGĐ/SKSS ở cơ sở y tế tư nhân có thuận lợi trong giao tiếp thân thiện, thái độ tôn trọng khách hàng và được tư vấn đầy đủ, nhưng có hạn chế là giá dịch vụ khá cao và chưa đủ độ tin cậy về chất lượng dịch vụ do tâm lý “bao cấp” còn khá nặng nề trong số đông khách hàng, nên số lượng và tỷ lệ người sử dụng dịch vụ KHHGĐ/SKSS ở cơ sở y tế tư nhân còn khá thấp.
Các tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước tham gia cung cấp các dịch vụ KHHGĐ/SKSS như Marie Stopes International tại Việt Nam, DKT, Tổ chức Dân số quốc tế, các phòng khám của Hội KHHGĐ Việt Nam dưới các hình thức phi lợi nhuận như viện trợ, tiếp thị xã hội hoặc thu phí thấp. Ngoài ra, các tổ chức phi chính phủ còn hỗ trợ kỹ thuật nâng cao năng lực cho các cơ sở y tế, chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý, đánh giá, nghiên cứu khoa học phục cho quản lý cơ sở dịch vụ và quản lý nhà nước.
Bên cạnh đó là những khó khăn trong việc bảo đảm đủ số lượng và có chất lượng về cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS trong những năm tới để duy trì mức sinh thay thế và đáp ứng nhu cầu đa dạng của người sử dụng.
Trước năm 2010, chi phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS chủ yếu được viện trợ không hoàn lại và ngân sách nhà nước chi trả. Từ sau năm 2010, nước ta trở thành nước có thu nhập trung bình thì các nguồn viện trợ giảm mạnh, ngân sách trung ương giảm, ngân sách một số địa phương tăng nhưng không đủ bù đắp phần thiếu hụt, nhiều địa phương không đầu tư ngân sách địa phương cho cung cấp miễn phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS.
Với tổng sản phẩm bình quân đầu người là 2.052 USD và với sự phát triển của kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao và có sự phân hóa giàu nghèo, tầng lớp trung lưu đã, đang hình thành và trở thành số đông tại các khu vực đô thị và nông thôn phát triển thì đòi hỏi khách quan là phải đáp ứng nhu cầu đa dạng về số lượng, hình thức dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng của các nhóm khách hàng có điều kiện và hoàn cảnh khác nhau.
Chưa có thị trường dịch vụ KHHGĐ/SKSS. Các cơ sở y tế công lập được giao nhiệm vụ cung cấp miễn phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS cho đa số người sử dụng hoặc được thu phí dịch vụ với mức rất thấp đối với một số trường hợp. Các cơ sở y tế ngoài công lập tham gia cung cấp một số dịch vụ KHHGĐ/SKSS cho những khách hàng mà họ thấy thấy thuận lợi hơn so với cơ sở y tế công lập. Sự độc lập trong cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS giữa cơ sở y tế công lập với cơ sở y tế ngoài công lập là không có sự cạnh tranh phát triển và không bên nào chủ động hoặc đủ khả năng đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, đào tạo, bồi dưỡng trình độ kỹ thuật để nâng cao chất lượng dịch vụ KHHGĐ/SKSS.
Sự phát triển của cơ sở y tế tư nhân ngoài tầm kiểm soát về số lượng, chất lượng dịch vụ KHHGĐ/SKSS và chưa có cơ chế, biện pháp để gắn kết giữa cơ sở y tế công lập với cơ sở y tế ngoài công lập nhằm bảo đảm chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS.
Cuối cùng, các rào cản quá lớn để sớm hình thành thị trường đầy đủ về dịch vụ KHHGĐ/SKSS, nên khó bảo đảm số lượng, đa dạng về hình thức, chất lượng dịch vụ KHHGĐ/SKSS để duy trì mức sinh thay thế và đáp ứng nhu cầu đa dạng của người sử dụng trong thời gian trước mắt.
Tâm lý “bao cấp”, “ỷ lại” vào nhà nước trong việc cung cấp miễn phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS còn rất nặng nề; khá phổ biến trong nhân dân và đối với người cung cấp dịch vụ. Một bộ phận không nhỏ đối tượng chưa sẵn sàng tự trả chi phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS hoặc chưa chấp nhận làm dịch vụ KHHGĐ/SKSS tại cơ sở y tế ngoài công lập. Thực tế mấy năm gần đây cho thấy, tỷ lệ sử dụng BPTT đã giảm bình quân 1,5 % năm.
Các chính sách khuyến khích xã hội hóa các hoạt động y tế đã được ban hành, nhưng những rào cản về mức độ miễn phí lớn, về tâm lý chưa chấp nhận của người sử dụng, về hiệu quả đầu tư, nên sự phát triển, mở rộng các cơ sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS là rất chậm và không đạt yêu cầu cho việc giảm nhanh tỷ lệ cung cấp miễn phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS trong thời ngắn sắp tới.
Những thực tế trên đòi hỏi phải có biện pháp can thiệp, hỗ trợ của cơ quan quản lý về dịch vụ KHHGĐ/SKSS nhằm xóa dần tâm lý cung cấp miễn phí, tạo thuận lợi cho các cơ sở cung cấp dịch vụ vượt qua các rào cản, đem lại niềm tin để phát triển và sớm mở rộng thị trường dịch vụ KHHGĐ/SKSS.
Việc thực hiện thành công dự án “xây dựng và thử nghiệm mô hình xã hội hóa cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS tại các cơ sở y tế đủ Điều kiện giai đoạn 2016-2020” là cơ sở để mở rộng phạm vi trong toàn quốc nhằm bảo đảm cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn được cung cấp miễn phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng; bảo đảm cho người có thu nhập khá và giàu sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn sử dụng các dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng khác nhau, phù hợp với tâm lý, khả năng của bản thân mỗi người; bảo đảm sự chủ động trong phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ KHHGĐ/SKSS của các cơ sở y tế công lập, ngoài công lập và bảo đảm cho sự phát triển bền vững của chương trình DS-KHHGĐ.
