Bài 4: Hai thế hệ – một hành trình cứu sống người nhiễm HIV và khát vọng chấm dứt dịch AIDS vào năm 2030

17/11/2025 10:42

(Chinhphu.vn) - Một người là “cây đại thụ” của ngành truyền nhiễm, người đặt nền móng đầu tiên cho công tác điều trị HIV/AIDS tại Việt Nam. Người kia nối tiếp ngọn lửa, xây dựng một mô hình điều trị toàn diện, nhân văn để cứu chữa hàng nghìn bệnh nhân đã từng ở lằn ranh sinh tử.

Giữa hai thế hệ ấy - GS.TS Nguyễn Văn Kính, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương và PGS.TS Đỗ Duy Cường, Viện trưởng Viện Y học Nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai - là một hành trình dài của tri thức, lòng nhân ái và sự kiên trì chưa bao giờ mệt mỏi trong cuộc chiến chống HIV/AIDS ở Việt Nam suốt 35 năm qua.

Ngã rẽ định mệnh đưa GS Nguyễn Văn Kính đến với HIV/AIDS

Trong ký ức của GS.TS Nguyễn Văn Kính, con đường đến với HIV/AIDS bắt đầu từ một lời dặn của người thầy đáng kính – GS.BS Trịnh Ngọc Phan. Những năm 1980, khi Việt Nam chưa có điều kiện chẩn đoán HIV, thầy Phan đã tiên đoán về sự xuất hiện của một đại dịch mới và nhắn nhủ học trò: "Các con phải học, có khi sau này nó sẽ bùng lên thành dịch lớn đấy". Lời căn dặn ấy trở thành di ngôn soi đường cho bác sĩ trẻ Nguyễn Văn Kính.

Bài 4: Hai thế hệ – một hành trình cứu sống người nhiễm HIV và khát vọng chấm dứt dịch AIDS vào năm 2030- Ảnh 1.

PGS. TS Nguyễn Văn Kính (phải) thăm, động viên bệnh nhân tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương nhân dịp Tết Nguyên đán. Ảnh: VGP/Thùy Chi

Năm 1990, khi trúng tuyển chương trình Interne des hôpitaux của Pháp, ông được hai người thầy là GS. Trịnh Ngọc Phan và GS.TS Phạm Song nhắc nhở: "Sang đó phải học cho bằng được về SIDA, sau này nó sẽ là vấn đề lớn của Việt Nam".

Tại Viện Pasteur Paris, bác sĩ trẻ người Việt không chỉ lần đầu được tiếp cận các kỹ thuật xét nghiệm Western Blot, ELISA…, mà còn có cơ hội gặp hai nhà khoa học đã phát hiện ra virus HIV, đó là GS. Luc Montagnier và GS. Françoise Barré-Sinoussi.

Năm 1983, cùng với các nhà khoa học viện Pasteur Paris, GS. Francoise Barré- Sinoussi đã tìm ra virus HIV, tác nhân gây ra Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS).

Khi đó, GS. Barré-Sinoussi đã nhiều lần khích lệ bác sĩ Kính: "Kính, anh chăm chỉ như thế, làm nghiên cứu sinh đi". Chính sự cổ vũ đó đã đưa ông bước sâu vào chuyên ngành HIV/AIDS – lĩnh vực mà sau này ông dành trọn sự nghiệp.

Khi trở về nước, Việt Nam chưa phát hiện ca HIV nào, nhưng nhờ kiến thức tiếp thu từ Pháp, bác sĩ Kính đã cùng đồng nghiệp chủ động chuẩn bị ứng phó. Cuối năm 1990, ca nhiễm HIV đầu tiên xuất hiện tại TPHCM, mở đầu cho giai đoạn căng thẳng kéo dài hàng chục năm.

Giữa lúc thông tin về HIV/AIDS còn mơ hồ, ông được giao soạn thảo những hướng dẫn lâm sàng đầu tiên. Từ các tài liệu của WHO và Viện Pasteur, ông biên soạn cuốn "Các phác đồ chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS với các bệnh cơ hội" – tài liệu nền tảng của thế hệ y bác sĩ truyền nhiễm đầu tiên tại Việt Nam.

Những năm tháng đối mặt tử thần và hành trình "cõng thuốc" vào Nam

Những năm đầu virus HIV xuất hiện tại Việt Nam, chưa có thuốc điều trị, bác sĩ Kính và đồng nghiệp gần như bất lực trước tốc độ tử vong tăng theo từng ngày. Ông nhớ lại:"WHO hỗ trợ cho Việt Nam lô thuốc Zidovudine đầu tiên, tổng cộng 3.000 viên. Tôi được giao mang 1.000 viên vào Chợ Quán cho bệnh nhân. Cái ba lô hôm đó nặng lắm, không phải vì số lượng thuốc, mà vì hy vọng của người bệnh gửi vào mình…".

Phác đồ "một thuốc" nhanh chóng bị kháng, trong khi phác đồ "ba thuốc" ARV lại quá đắt và hiếm. Bước ngoặt chỉ đến khi Việt Nam tiếp cận các quỹ quốc tế như PEPFAR, Quỹ Toàn cầu, Quỹ Bill Clinton. Từ đây, hệ thống điều trị ARV được mở rộng toàn quốc, cứu sống hàng trăm nghìn người.

Một kỷ niệm khiến ông nhớ mãi là khi nhiều bệnh nhân sau điều trị đạt tải lượng virus dưới ngưỡng phát hiện (K=K – Không phát hiện = Không lây truyền) đã lập gia đình, sinh con khỏe mạnh. Có bệnh nhân mời ông đi dự đám cưới, mời đến ngày đầy tháng con. "Đó là những khoảnh khắc tôi biết rằng cuộc đời mình không vô nghĩa", ông xúc động chia sẻ.

Những câu chuyện chưa bao giờ quên: Xóa kỳ thị từ những hành động nhỏ

Những năm 1990, kỳ thị HIV ở mức "báo động đỏ". Thầy thuốc cũng sợ, nhân viên y tế cũng sợ. Một phụ nữ bán hàng ở chợ Bến Thành – ca bệnh đầu tiên của cả nước – bị người chồng bỏ rơi chỉ vì kết quả xét nghiệm.

Giữa nỗi sợ lan rộng đó, bác sĩ Kính đã cùng đồng nghiệp làm điều không ai nghĩ đến: ăn cùng, ngồi cùng người nhiễm HIV ngay trước mắt đám đông, để chứng minh HIV không lây qua tiếp xúc thông thường. Chỉ sau khi buổi tuyên truyền kết thúc, họ mới tiết lộ rằng nhân vật ấy chính là người nhiễm HIV đang bị kỳ thị.

Chính những hành động nhân văn nhỏ bé ấy đã làm thay đổi nhận thức của hàng nghìn người đối với căn bệnh bị coi là "căn bệnh thế kỷ" lúc bấy giờ.

Mô hình giáo dục đồng đẳng – cứu người và cứu niềm tin

Nhận thấy người nghiện ma túy và người hoạt động mại dâm là những người nguy cơ cao lây nhiễm HIV thường sợ bị bắt, không dám tiếp cận y tế, bác sĩ Kính đã đề xuất xây dựng mô hình giáo dục đồng đẳng. Lần đầu tiên, họ xin 6 phụ nữ mại dâm từ trại Lộc Hà về làm cộng tác viên. Nhưng sáng hôm sau, không một ai đến nhận nhiệm vụ.

Khi tìm theo địa chỉ, họ đều biến mất. Sau thất bại ấy, nhờ Hội Phụ nữ vận động, nhóm tìm được cô B., người đồng ý trở thành cộng tác viên tích cực và rất hiệu quả. Nhờ sự tham gia tích cực của cô B. trong việc tuyên truyền kiến thức về virus HIV, cách phòng tránh lây nhiễm HIV và hiệu quả của việc tiếp cận y tế, hàng trăm phụ nữ và người nghiện đã được tiếp cận dịch vụ y tế. Sau này, cô B. đã được quận Đống Đa (cũ) tặng bằng khen.

Từ nhóm phụ nữ mại dâm, mô hình lan rộng sang nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM), nhóm người nghiện chích ma túy, rồi lan ra toàn quốc – trở thành mô hình thành công nhất trong công tác can thiệp giảm tác hại HIV/AIDS ở Việt Nam.

PGS.TS Đỗ Duy Cường – người nối tiếp ngọn lửa

Nếu GS.TS Nguyễn Văn Kính là người đặt nền móng cho điều trị HIV/AIDS, thì PGS.TS Đỗ Duy Cường chính là thế hệ tiếp nối, góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng điều trị.

Bài 4: Hai thế hệ – một hành trình cứu sống người nhiễm HIV và khát vọng chấm dứt dịch AIDS vào năm 2030- Ảnh 2.

PGS.TS Đỗ Duy Cường, Viện trưởng Viện Y học Nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai. Ảnh: VGP/Thùy Chi

Năm 1995, khi còn là bác sĩ nội trú, anh tiếp xúc ca HIV đầu tiên ở Hà Nội và "không dám đến gần vì sợ lây". Nhưng càng điều trị, càng chứng kiến nỗi đau của người bệnh, anh càng muốn dấn thân vào lĩnh vực này. Sau năm 2000, HIV bùng phát mạnh ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Cần Thơ…, hình ảnh hàng loạt vòng hoa trắng ở những nghĩa trang ven biển khiến bác sĩ trẻ không cầm được nước mắt.

Có lần, anh đến huyện đảo Vân Đồn, nơi cả hội trường chật kín phụ nữ goá chồng và trẻ em nhiễm HIV chờ nhận thuốc ARV miễn phí. Nhiều người đi từ sáng sớm, ngồi đợi cả ngày chỉ để gặp bác sĩ. "Nhìn ánh mắt họ khi ôm lấy túi thuốc, tôi biết mình phải làm gì để giúp đỡ những bệnh nhân không may mắn nhiễm HIV", bác sĩ Cường kể.

Hành trình hồi sinh của những phận đời nhiễm HIV

Trong hàng nghìn bệnh nhân mà PGS.TS Đỗ Duy Cường từng điều trị, có lẽ xúc động nhất là câu chuyện đôi vợ chồng nhiễm HIV từ đầu những năm 2000.

Anh L. và chị P. yêu nhau từ thời phổ thông. Vài tháng trước đám cưới, anh L. phát hiện nhiễm HIV do tiêm chích ma túy. Anh giục vợ sắp cưới đi xét nghiệm – kết quả vợ sắp cưới cũng dương tính với virus HIV. Họ ôm nhau khóc suốt đêm, nghĩ rằng cái chết đang chờ đợi phía trước. Nhưng vì thương nhau, họ vẫn kết hôn. Không ai nói với gia đình một lời.

Năm 2000, chị mang thai đôi, nhưng khi ấy chưa có thuốc men dự phòng mẹ – con, không ai dám bảo đảm hai đứa trẻ sinh ra sẽ khỏe mạnh. Họ quyết định bỏ thai – nỗi đau còn theo họ suốt nhiều năm.

Năm 2003, quá tuyệt vọng, họ mua 20 ống thuốc diệt chuột, uống mỗi người 10 ống để kết thúc cuộc đời. Gia đình phát hiện kịp, đưa đi cấp cứu. Tỉnh lại sau cơn chết hụt, họ quyết định phải sống.

Năm 2007, họ gặp bác sĩ Cường. Ông đưa họ vào chương trình điều trị ARV miễn phí, theo dõi sát sao từng tháng. Chị P. dị ứng nhiều loại thuốc, việc tìm phác đồ phù hợp là cuộc chiến không hồi kết. Anh L. thì mắc kèm viêm gan C – càng khó điều trị. Thế nhưng cuối cùng, sau gần 20 năm, cả hai đều khỏe mạnh, sống tích cực, coi bác sĩ Cường là "người anh cả", "ân nhân cứu mạng".

Họ đã từng cảm ơn chân thành với bác sĩ Cường vì đã giúp họ sống tử tế, biết yêu thương, biết đi tiếp…

Một câu chuyện khác cũng khiến bác sĩ Cường nhớ mãi. Năm 2024, một bệnh nhân 62 tuổi, từng quan hệ tình dục không an toàn, đến Trung tâm Bệnh Nhiệt đới Bạch Mai trong tình trạng nguy kịch. Bệnh nhân bị sốt cao kéo dài, suy kiệt nặng, mụn mủ toàn thân, CD4 chỉ còn 3 tế bào/mm3 và bị nhiễm nấm huyết T.marneffei, lao đại tràng…

Bệnh nhân đã tuyệt vọng, không muốn điều trị nữa, tự trách mình vì sự nông nổi 10 năm trước.

Nhưng nhờ sự kiên trì động viên của các y bác sĩ và đội ngũ điều dưỡng, bệnh nhân đã đồng ý điều trị. Một tháng sau, người đàn ông từ "cửa tử" bước qua cánh cửa để hồi sinh.

Điều trị HIV: không chỉ bằng thuốc, mà bằng trái tim

PGS.TS Đỗ Duy Cường thường nói: "Điều trị HIV không chỉ bằng thuốc, mà bằng ánh mắt, bằng cách cầm tay và nói rằng: anh sẽ sống".

Ông giải thích, những bệnh nhân khi biết mình bị lây nhiễm HIV thường bị sốc, trầm cảm, tự ti và dễ tìm đến hành vi nguy hiểm. Chính vì vậy, một lời động viên đúng lúc có thể cứu cả một cuộc đời. Điều dưỡng của trung tâm được gọi là "những nàng tiên áo trắng", ngày đêm chăm sóc từng vết loét, từng bữa ăn, giấc ngủ cho bệnh nhân – điều mà không phải ngành nào cũng có thể làm được.

Nhờ đó, phòng khám ngoại trú của Trung tâm Bệnh Nhiệt đới đã đạt tỉ lệ virus dưới ngưỡng phát hiện trên 98%, được Bộ Y tế và quốc tế đánh giá là một trong những mô hình điều trị HIV tốt nhất khu vực.

Dấu ấn Việt Nam trong cuộc chiến chống dịch HIV/AIDS

Nhìn lại chặng đường 35 năm Việt Nam ứng phó với căn bệnh HIV/AIDS, từ bóng tối của nỗi sợ hãi… đến nay Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác phòng, chống HIV/AIDS. Điển hình, Việt Nam đã được thế giới ghi nhận là một trong 4 quốc gia cùng với Anh, Đức, Thụy Sĩ có chất lượng điều trị HIV/AIDS tốt nhất với tỉ lệ người nhiễm HIV được điều trị có tải lượng virus dưới ngưỡng ức chế đạt 96%, góp phần giảm lây nhiễm HIV trong cộng đồng.

Trong hơn 10 năm qua, Việt Nam liên tục giảm 3 chỉ tiêu: Giảm số người mới nhiễm HIV, giảm số chuyển sang AIDS và giảm số tử vong liên quan đến HIV/AIDS; kiểm soát tỉ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dưới 0,3%.

Kinh nghiệm của GS.TS Nguyễn Văn Kính, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương và PGS.TS Đỗ Duy Cường, Viện trưởng Viện Y học Nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai cho thấy thành công của Việt Nam đến từ nhiều yếu tố. Đó chính là tầm nhìn chiến lược của các bậc tiền bối như GS. Trịnh Ngọc Phan và GS. Phạm Song. Bên cạnh đó, hệ thống y tế cơ sở vững mạnh đến tận thôn bản, "đi từng ngọ, gõ từng nhà". Mô hình giáo dục đồng đẳng cũng đã được tích cực triển khai.

Trong những năm trước đây Việt Nam cũng đã nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các tổ chức quốc tế, như nguồn lực từ PEPFAR, Quỹ Toàn cầu… Và đặc biệt là sự quyết tâm của đội ngũ thầy thuốc, sự cống hiến, trách nhiệm hết mình của hàng nghìn y, bác sĩ tuyến đầu… Nhờ đó, Việt Nam đã biến HIV từ một "bản án tử" thành bệnh mãn tính có thể kiểm soát.

Những trăn trở còn lại trên hành trình hướng tới mục tiêu 2030

Nhìn lại chặng đường 35 năm ứng phó HIV/AIDS, GS.TS Nguyễn Văn Kính khẳng định, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để tin vào mục tiêu chấm dứt dịch AIDS vào năm 2030. Tuy nhiên, phía sau những thành tựu ấy vẫn còn không ít thách thức đang hiện hữu, đòi hỏi nỗ lực bền bỉ và quyết tâm mạnh mẽ hơn nữa của toàn hệ thống.

Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay đó là nguồn lực quốc tế suy giảm, buộc Việt Nam phải từng bước chủ động về kinh phí, thuốc men và sinh phẩm xét nghiệm. Mô hình dịch tễ cũng đang thay đổi, dịch chuyển mạnh sang nhóm MSM và thanh niên – những đối tượng khó tiếp cận do e ngại kỳ thị và thường có đời sống tình dục kín đáo.

Bên cạnh đó, nguy cơ kháng thuốc vẫn rình rập nếu người bệnh bỏ điều trị giữa chừng hoặc tuân thủ không nghiêm túc. Đặc biệt, tình trạng phân biệt đối xử kỳ thị dù đã giảm nhiều, nhưng vẫn tồn tại âm thầm ở không ít cộng đồng, khiến người nhiễm HIV sợ hãi, giấu bệnh và không dám tiếp cận dịch vụ.

GS.TS Nguyễn Văn Kính nhấn mạnh: "Chúng ta không thể kiểm soát dịch nếu người bệnh vẫn còn sợ hãi và giấu mình".

Từ góc nhìn của người trực tiếp điều trị hàng nghìn bệnh nhân mỗi năm, PGS.TS Đỗ Duy Cường cho rằng, cần tiếp tục mở rộng các dịch vụ thân thiện, tăng cường tư vấn tâm lý, phát triển mạnh các mô hình tiếp cận nhóm nguy cơ cao. Việc triển khai rộng rãi PrEP, PEP, xét nghiệm nhanh, đồng thời ứng dụng AI để nhắc lịch uống thuốc, duy trì kết nối và hỗ trợ người bệnh cũng là chìa khóa quan trọng để nâng hiệu quả điều trị.

Dẫu còn nhiều trở ngại, cả hai chuyên gia đều tin tưởng mục tiêu 95-95-95 vào năm 2030 là hoàn toàn trong tầm tay nếu Việt Nam tiếp tục giữ vững tinh thần chủ động, sáng tạo và không bỏ rơi bất kỳ ai trên hành trình phòng, chống HIV/AIDS.

Bản hùng ca của lòng nhân ái

Hơn 3 thập kỷ qua, cuộc chiến chống HIV/AIDS ở Việt Nam không chỉ là hành trình tìm ra phác đồ điều trị hiệu quả hay hoàn thiện mô hình quản lý bệnh. Đó còn là câu chuyện của lòng nhân ái, của những con người đã dành cả đời để làm điều tưởng chừng bình thường nhất: giúp người bệnh được sống.

Những người từng đứng giữa ranh giới sống – chết nay đã lập gia đình, sinh con khỏe mạnh và hòa nhập cộng đồng như bao người khác.

Những người từng bị xã hội quay lưng vì sự kỳ thị nay trở thành những tuyên truyền viên tích cực, can đảm chia sẻ câu chuyện cuộc đời để bảo vệ người khác.

Và những người từng nghĩ mình đã chạm đáy tuyệt vọng, từng từ bỏ hy vọng sống, nay lại được hồi sinh, tiếp tục viết tiếp hành trình mới.

Đó chính là chiến thắng lớn nhất của ngành y tế. Đồng thời, đó cũng là bản hùng ca của những trái tim nhân ái – nơi các bác sĩ như GS.TS Nguyễn Văn Kính, PGS.TS Đỗ Duy Cường và hàng nghìn y bác sĩ thầm lặng khác đã gieo mầm hy vọng để không ai bị bỏ lại phía sau.

Thùy Chi

*Những "chiến binh thầm lặng" trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam

Bài 5: Hành trình truyền cảm hứng của "những chiến binh cộng đồng" trong phòng, chống HIV/AIDS

hiv
}
Top